Bản tin Công Thương quý I/2018

Tháng Giêng quê ngoại

22/02/2018

Ngoại tôi có sáu người con. Nhưng, tôi thân nhất là cậu Út Ngọc, bởi cậu chỉ hơn tôi có sáu tuổi. Mỗi lần về thăm ngoại, cậu Út thường dắt tôi đi ra vườn hái ổi, bắt chim… rồi quanh quẩn dưới những gốc thông già nghe gió thổi, lượm những trái thông rụng ven đường.

Nhà ngoại nằm sát đường xe Thu Bồn, cái nền nhà cao ngất ngưởng, mỗi lần vào nhà phải leo lên mười hai bậc tam cấp. Ngoại nói, làm nhà cao để tránh lụt. Dân quê tôi, làng mạc nằm dọc hai bên bờ sông, đã trải qua nhiều thế hệ, cuộc sống của người dân phải đối mặt thường trực với bão lụt vào những tháng cuối năm. Đó là thời gian thu hoạch vụ đông xuân và những hoa màu phụ. Người nông dân phải chạy đua với thời tiết, vật lộn với tháng ngày dành lại từng miếng ăn trước những cơn bão lũ tràn về. Thế nhưng, trận lụt năm Thìn 1964, cơn giận dữ của Thủy Tinh đã san bằng hết mọi thứ trên đường nó đi qua. Nó như một quả bom nguyên tử càn quét qua quê hương tôi để trả thù vu vơ một ai đó. Hàng trăm người đã chết. Nhiều làng mạc bị bức phá, cắt ngang cuốn trôi theo dòng nước lũ. Tất cả chỉ còn lại con số không.

Năm ấy, quê ngoại tôi, làng Thu Bồn, đã trôi mất nguyên con đường cái chạy dọc theo bờ sông. Con đường có hai hàng thông xanh cao vút mà mỗi gốc to hơn một vòng tay ôm, quanh năm gió hát rì rào.

Thời thơ ấu, tôi nhìn quê ngoại như một bức tranh lụa muôn màu sống động. Nơi này hình như đã đưa tôi vào một thế giới của kỳ ảo như hư như thực mà về sau này tôi mới khám phá ra trong tâm hồn tôi đầy ắp những hình ảnh, những âm thanh, màu sắc đã lắng sâu trong tâm thức…

Trước nhà ngoại tôi là con đường cái rộng chừng năm thước trải đá lưa thưa, thỉnh thoảng một vài chiếc xe kéo, vài ba hôm có một chiếc xe hơi “con cóc” chạy về làng, theo sau là một lũ con nít, trong đó có cả tôi và cậu Út Ngọc. Đó là những năm trước năm 1945. Những buổi chiều gió nồm lên cao, nắng hè trải dài trên dòng Thu Bồn như dải lụa, là lúc những chiếc thuyền buồm trắng no gió cưỡi sóng ngược dòng đi về những miền xa xôi nào ấy. Nhưng có một thứ, hình như đã lấp đầy trong tâm hồn thơ dại của tôi từ quê ngoại, lúc nào tôi cũng cảm nhận được cái âm thanh vi vu, rì rào của ngàn thông reo như có từ muôn thuở. Cái thứ âm thanh ấy có lúc cao vút như tiếng sáo diều, như suối reo ở chốn xa xôi, có lúc vội vàng, có lúc trầm xuống, khoan thai, nhẹ nhàng như bước đi của ngọn gió đầu mùa, như tà áo mây chiều trôi mênh mang trong bầu trời xanh biếc.

Những lúc buồn vô cớ như thế, tôi hay nhớ nhà. Nhà tôi ở phía đầu nguồn. Nơi ấy, núi vây quanh khung trời. Núi không cho tôi nhìn xa hơn đầu núi! Về quê ngoại, tầm mắt tôi nhìn xa hơn, xa tăm tắp về phía mặt trời mọc mà chỉ có dòng Thu Bồn xanh biếc trôi lang thang về phía ấy, không có ngọn núi nào dám che tầm mắt của tôi trên đường bay của mây trắng.

Tháng Giêng mưa bụi. Đêm ở Thu Bồn vắng vẻ, rả rích dưới ngọn đèn dầu leo lắt. Xa xa nghe có tiếng trống bập bùng, mỗi lúc rõ dần trên con đường cái… Ngoại tôi bảo: “Ngọc ơi, đóng cửa, tắt hết đèn đi con”. Tiếng trống cơm bập bùng nghe chừng gần lắm… đâu như ngoài ngõ. Tiếng hát mỗi lúc một rõ dần, rõ dần theo nhịp trống, thanh la, xập xỏa và sênh phách… Một thứ âm thanh nhịp nhàng, rộn rã hòa quyện cùng tiếng hát trong màn đêm mơ hồ mưa bụi tháng Giêng. Tôi lén ngoại nhìn qua khe cửa, những cây đuốc thắp sáng lung linh, đoàn người như dừng lại trước cổng nhà ngoại ngập ngừng, rồi hát: “Sắc là sắc bùa âu. Sắc bùa âu, bước qua năm mới trồng dâu để tằm…”. Giọng nam có, nữ có, tiếng hát cất lên rộn ràng như mang tới niềm vui trong cái se lạnh mưa phùn của đêm tháng Giêng quê ngoại…

Rồi họ kéo đi theo tiếng trống bập bùng, nhập nhòa trong ánh sáng của những ngọn đuốc soi đường. Đêm ấy, tôi không ngủ được. Tôi không dám hỏi ngoại tôi vì sao phải đóng cửa, tắt đèn? Vì sao phải đứng trước cổng hát vu vơ “Sắc bùa âu, sắc là sắc bùa âu, bước qua năm mới trồng dâu để tằm?”. Sắc bùa âu là chi? Rồi những người hát ấy đi mô? Hát cho ai? Hát làm chi rứa?…

Đêm ấy, cái đêm thao thức lạ thường. Tôi ôm những hình ảnh và nỗi buồn không duyên cớ ấy cho đến ngày lớn khôn.

Thực ra trong nền văn hóa của dân tộc, vì nhu cầu của đời sống tinh thần, nó đã tự phát và biểu trưng qua văn nghệ dân gian dưới nhiều hình thức như vậy. Chính đó là cái hồn của quê hương. Ngày trước, những hình thức văn nghệ dân gian không được tổ chức, hỗ trợ, nâng đỡ và không được huấn luyện. Những hình thức tự phát ấy cũng mang theo tinh thần tự nguyện, lâu ngày trở thành những ước lệ của từng vùng, miền, từng quê hương. Tôi không biết nhiều về “sắc bùa âu”, một môn hát có tính đặc thù ở quê ngoại tôi ngày nào. Một loại hát đồng dao? Hay một loại hát na ná như hò khoan ở Quảng Nam? Nhưng dù gì đi nữa, “sắc bùa âu” vẫn là một loại hát dân gian mang tính thiện chí, thuần phát từ bản chất, đã đem lại niềm an vui trong cộng đồng nông thôn quê ngoại tôi.

Sau này, ngoại tôi về định cư ở Đà Nẵng. Khu vườn ổi trĩu cành, những âm thanh kỳ diệu của ngàn thông trên quê ngoại và bao nhiêu kỷ niệm… đã trở thành quá khứ xa xôi trong tôi. Buổi sáng, tôi đứng trên ngọn đồi, giữa cánh đồng lúa tháng Giêng xanh ngát nơi ông bà ngoại tôi yên nghỉ. Nơi ấy, tôi nhìn về phía Mỹ Sơn, một vùng đồi núi chập chùng. Phía sau lưng tôi dòng Thu Bồn lững lờ trôi trong nắng tháng Giêng vàng óng.

Trên con đường về quê ngoại tôi ngày nay, xe chạy băng băng trên đường nhựa, hai bên đường cờ hoa phất phới đón chào mùa xuân mới và quê ngoại tôi cũng đang chuẩn bị cho ngày lễ hội lớn. Lễ bà Thu Bồn 12 tháng 2 âm lịch hằng năm. Tôi nghe xa xa như có âm vang, và bóng dáng tháng Giêng mưa bụi, tiếng trống chầu hát bộ lệ kỳ yên…                 ■

Hoàng Quy