Bản tin Công Thương quý I/2018

Thông tin về Thuế

22/02/2018
  1. Kể từ ngày 05/11/2017, doanh nghiệp không phải nộp Mẫu 06/GTGT để đăng ký và chuyển đổi phương pháp tính thuế giá trị gia tăng

Để cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký và chuyển đổi phương pháp tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, ngày 19/9/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 93/2017/TT-BTC (có hiệu lực kể từ ngày 05/11/2017) với các nội dung sau:

1.1. Bỏ quy định nộp Mẫu 06/GTGT để đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập và cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu chịu thuế GTGT dưới một tỷ đồng.

1.2. Bỏ quy định nộp Mẫu 06/GTGT khi chuyển đổi phương pháp tính thuế GTGT.

1.3. Bổ sung hướng dẫn phương pháp tính thuế GTGT của cơ sở kinh doanh xác định theo hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng.

Như vậy, kể từ ngày Thông tư số 93/2017/TT-BTC có hiệu lực (05/11/2017) thì việc xác định phương pháp tính thuế GTGT căn cứ theo Hồ sơ khai thuế GTGT do cơ sở kinh doanh gửi đến cơ quan thuế, cụ thể như sau:

– Nếu cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì gửi Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 01/GTGT, 02/GTGT đến cơ quan thuế.

– Nếu cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng phương pháp trực tiếp thì gửi Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 03/GTGT, 04/GTGT đến cơ quan thuế.

(Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 01/GTGT, 02/GTGT, 03/GTGT và 04/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính, đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính).

  1. Đã gửi hồ sơ giảm trừ gia cảnh qua mạng thì không phải nộp bản giấy

Trong quá trình triển khai thực hiện nội dung hướng dẫn tại Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/6/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về đăng ký thuế, có phát sinh vướng mắc về việc đăng ký giảm trừ gia cảnh (GTGC) đối với người nộp thuế có thu nhập từ tiền lương, tiền công thông qua cơ quan chi trả (CQCT) thu nhập như sau:

Tại Khoản 4 Điều 6 và Khoản 1b Điều 9 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định: Cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân đăng ký thuế cho người phụ thuộc cùng với thời hạn thực hiện thủ tục đăng ký giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân. Đối với hồ sơ đăng ký thuế điện tử: Việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 110/2015/TT-BTC ngày 28/07/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

Tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định: Người nộp thuế có thu nhập từ tiền lương, tiền công đăng ký người phụ thuộc theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp hai (02) bản cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập để làm căn cứ tính giảm trừ cho người phụ thuộc. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập lưu giữ một (01) bản đăng ký và nộp một (01) bản đăng ký cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý cùng thời điểm nộp tờ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ khai thuế đó theo quy định của luật quản lý thuế.

Với các quy định nêu trên, việc đăng ký giảm trừ người phụ thuộc được thực hiện theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân, nghĩa là người nộp thuế khi đăng ký GTGC cho người phụ thuộc thì phải khai báo thông tin cho CQCT thu nhập tổng hợp theo mẫu (20-ĐKT-TH-TCT) để gửi đến cơ quan thuế bằng bản giấy. Tuy nhiên trên thực tế trong ứng dụng hỗ trợ kê khai thuế qua mạng tại phần kê khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân đã có mục [Đăng ký người phụ thuộc GTGC] nên các CQCT đã gửi đến cơ quan thuế qua phương tiện điện tử. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho NNT cũng như giảm thủ tục hành chính, phát huy xu hướng khai, nộp điện tử; trên cơ sở ý kiến đề xuất của Cục Thuế TP. Đà Nẵng, mới đây ngày 08/12/2017 Tổng cục Thuế có Công văn phúc đáp đồng ý với đề xuất của Cục Thuế TP. Đà Nẵng. Theo đó, trường hợp CQCT thu nhập kê khai đăng ký GTGC người phụ thuộc gửi cơ quan thuế bằng phương tiện điện tử thì không phải nộp thêm mẫu số 20-ĐKT-TH-TCT bằng giấy đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

  1. Kể từ tháng 10/2017, cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và trả thông báo 2 bước đối với hồ sơ khai thuế điện tử (trừ báo cáo ấn chỉ thuế)

Với mục tiêu tạo điều kiện tốt nhất để người nộp thuế (NNT) thực hiện tốt chính sách pháp luật thuế, thực hiện kê khai, nộp thuế đúng hạn, chính xác theo quy định của pháp luật, đồng thời giảm thiểu sai sót liên quan đến việc kê khai nghĩa vụ thuế của NNT; kể từ tháng 10/2017 hồ sơ khai thuế điện tử của NNT khi gửi đến Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Thuế sẽ nhận được 02 thông báo:

– Thông báo bước 1 về việc cơ quan thuế “Tiếp nhận hồ sơ khai thuế điện tử” của NNT, được trả chậm nhất trong vòng 15 phút sau khi NNT gửi hồ sơ khai thuế trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế;

– Thông báo bước 2 về việc cơ quan thuế “Chấp nhận/Không chấp nhận việc nộp hồ sơ khai thuế điện tử” của NNT, được trả trong vòng 01 ngày làm việc kể từ ngày Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế trả Thông báo bước 1.

NNT được xem là hoàn thành nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế, sau khi nhận được thông báo bước 2 là “Chấp nhận”. Trường hợp nhận được thông báo bước 2 là “Không chấp nhận” thì NNT thực hiện điều chỉnh hồ sơ khai thuế theo hướng dẫn tại thông báo. Về việc ghi nhận nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế của NNT, cơ quan thuế thực hiện ghi nhận ngày nộp trên thông báo bước 1.

Cục Thuế TP. Đà Nẵng cam kết luôn lắng nghe, nắm bắt các khó khăn, vướng mắc trong quá trình kê khai, nộp thuế, trong việc thực hiện chính sách pháp luật thuế để hỗ trợ, hướng dẫn hoặc đề xuất, kiến nghị các giải pháp tháo gỡ kịp thời cho NNT.

  1. Chính sách thuế đối với các khoản chi trả thu nhập cho cá nhân

Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc xác định tính chất, nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc kê khai, khấu trừ thuế thu nhập cá nhân từ các khoản chi trả thu nhập cho cá nhân (cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh) liên quan đến hoạt động bán hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp. Dưới đây là một số trường hợp để doanh nghiệp tham khảo:

4.1. Đối với khoản “chiết khấu thanh toán” và khoản “hỗ trợ khách hàng đạt doanh số”

Trường hợp cá nhân là đại lý bán hàng hóa của doanh nghiệp được doanh nghiệp chi trả khoản “chiết khấu thanh toán” và khoản “hỗ trợ khách hàng đạt doanh số” thì các khoản tiền này thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 1% (theo hướng dẫn tại điểm 4 Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính: “Các dịch vụ khác không chịu thuế giá trị gia tăng thì thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất 1%”).

Doanh nghiệp chi trả khoản “chiết khấu thanh toán”, khoản chi “hỗ trợ khách hàng đạt doanh số” cho cá nhân thực hiện khai thuế, nộp thuế thay cho cá nhân theo tờ khai thuế mẫu số 01/CNKD ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính. Doanh nghiệp ghi cụm từ “Khai thay” vào phần trước cụm từ “Người nộp thuế hoặc Đại diện hợp pháp của người nộp thuế” đồng thời người khai ký tên, đóng dấu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nộp hồ sơ khai thuế thay cho cá nhân tại Chi cục Thuế nơi doanh nghiệp đặt trụ sở. Trên hồ sơ tính thuế, chứng từ thu thuế vẫn thể hiện người nộp thuế là cá nhân kinh doanh.

4.2. Đối với khoản “chiết khấu thương mại”

Trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng mua bán hàng hóa với cá nhân, trong hợp đồng có thỏa thuận về khoản chiết khấu thương mại (giảm trừ trực tiếp trên hóa đơn), không phải là hoa hồng đại lý hoặc thưởng khuyến mại theo quy định tại Điều 92 và Điều 171 Luật Thương mại thì khoản chiết khấu thương mại này không thuộc diện điều chỉnh của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Doanh nghiệp không khấu trừ thuế thu nhập cá nhân khi thực hiện chi trả khoản chiết khấu thương mại này theo hợp đồng, không phân biệt cá nhân là đại lý hay không phải đại lý.

4.3. Đối với khoản “trúng thưởng khuyến mại”

Trường hợp doanh nghiệp cho, tặng hiện vật cho khách hàng không thu tiền mà hiện vật là tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng với cơ quan quản lý nhà nước (gồm: chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế/cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng) thì thu nhập (vượt trên 10 triệu đồng) mà khách hàng nhận được thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân từ quà tặng.

Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mại theo quy định tại Khoản 5, Khoản 6 Điều 92 của Luật Thương mại (“5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố. 6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố”) thì khoản tiền/hiện vật cá nhân nhận được từ hoạt động trúng thưởng vượt trên 10 triệu đồng thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân từ trúng thưởng.                            ■